Tranh Làng Sình

Audio thuyết minh về Tranh Làng Sình
Từ trung tâm thành phố Huế, xuôi theo dòng sông Hương khoảng 7 km, phường Dương Nỗ (trước đây là xã Phú Mậu) là nơi có làng Sình, tên chữ là làng Lại Ân, nổi tiếng với nghề làm tranh dân gian.
Chữ "Sình" có lẽ dùng để chỉ vùng đất sình lầy ven sông. Còn "Lại Ân" nghĩa là "cậy nhờ ơn", thể hiện tấm lòng biết ơn của người dân đối với đấng thiêng liêng và tổ tiên, ông bà.
Làng Sình là một trong những ngôi làng hình thành khá sớm ở Đàng Trong. Làng nằm ven sông Hương, bên kia sông là Thanh Hà, một cảng sông nổi tiếng thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Nơi đây còn là một trung tâm văn hóa của vùng cố đô, với chùa Sùng Hóa trong làng từng là một trong những ngôi chùa lớn nhất vùng Hóa Châu xưa. Vì vậy, làng Sình không chỉ được biết đến là một trong những làng lập sớm ở xứ Thuận Hóa mà còn nổi tiếng với nghề làm tranh tín ngưỡng dân gian.
Ngày 12/5/2016, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế) ban hành Quyết định số 971/QĐ-UBND công nhận làng nghề Tranh dân gian làng Sình là làng nghề truyền thống. Nghề tranh làng Sình còn có nhiều tên gọi khác như nghề giấy, nghề bồi, nghề hồ điệp, nghề Sình... Điều này cho thấy đây là nghề thủ công làm tranh giấy.
Tranh Sình không dùng để trang trí như tranh Đông Hồ hay Hàng Trống ở miền Bắc, mà chỉ phục vụ sinh hoạt tín ngưỡng dân gian trong vùng, dùng vào việc cúng tế.
Sình là một làng nông nghiệp ven sông, gần kinh đô. Người dân ở đây chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng, một số đi buôn, cũng có nhiều người học hành đỗ đạt. Làng có điều kiện đi lại khá thuận lợi và nằm kề khu phố, chợ, cảng.
Trên thực tế, nơi đây đã trở thành một khu thị tứ "vệ tinh" quan trọng trong hệ thống phố cảng thương nghiệp Thanh Hà - Bao Vinh. Bên cạnh đội ngũ khách thương còn có không ít người làm nghề thủ công như đan lát, làm nón, làm giấy...
Ngoài ra, làng còn có nghề làm hương và làm hạt bỏng để cúng. Có lẽ nhờ những truyền thống này mà ngay từ khi ra đời, nghề in tranh mộc bản ở Sình đã không thuần túy phục vụ thú chơi tao nhã. Tranh chủ yếu đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, dùng để thờ và để hóa (đốt) trong các lễ cầu an, giải hạn.
Ngày nay, làng Sình là một làng văn vật của đất cố đô, nơi còn lưu giữ nghề làm tranh cổ truyền và một hội vật nổi tiếng, tổ chức vào ngày mồng 10 tháng Giêng Âm lịch hằng năm. Tín ngưỡng và sinh hoạt dân gian giữ một vai trò to lớn, gần gũi và quen thuộc trong phong tục của người Huế nói riêng và người Việt nói chung.
Tranh làng Sình gắn với một tín ngưỡng dân dã. Qua chất liệu, màu sắc, chủ đề, đường nét và bố cục, tranh đã tạo nên một nét riêng về thẩm mỹ. Nội dung tranh còn thể hiện thái độ, quan niệm và nếp sống của người dân nơi đây trước thiên nhiên, xã hội, lịch sử và văn hóa quê hương.
Tranh Sình được làm trên giấy dó. Mỗi tờ được in bằng khuôn gỗ để lấy đường nét, sau đó tô màu bằng các chất liệu dân gian như bột hồ điệp và màu pha chế từ nguyên liệu tự nhiên như lá cây, tro, gạch... Những nguyên liệu này được lấy từ nhiều nơi khác nhau như đầm phá, đồi núi, vườn nhà... Khuôn gỗ được gọi là bản khắc gỗ (mộc bản), thường làm bằng gỗ kiền, gỗ thị hoặc gỗ mít.
Dấu ấn của tranh làng Sình trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của cư dân vùng Huế thể hiện rõ qua các nhóm tranh chính sau: Tranh nhân vật: gồm tượng Bà với các mẫu tượng Đế, tượng Chùa và tượng Ngang, được dán quanh năm trên bàn thờ. Có loại con ảnh vẽ hình đàn ông hoặc đàn bà (còn gọi là ảnh Xiêm) và ảnh trẻ nam, nữ (ảnh Phền). Các loại ảnh ông Điệu, ông Đốc và Tờ bếp... thì được đốt đi sau khi cúng. Tranh đồ vật: vẽ các loại áo, tiền và vật dụng để đốt cho người cõi âm như áo ông, áo bà, áo binh, tiền, cung tên, đồ dùng gia đình… Loại tranh này thường có kích thước nhỏ. Tranh súc vật: vẽ gia súc, ngoài ra còn có voi, cọp và tranh 12 con giáp. Tranh dùng để cúng chuồng, cũng có thể hóa khi cúng tế người đã khuất.
Tất cả những loại tranh trên đều phản ánh tín ngưỡng cổ sơ, là dấu tích của tư tưởng người Việt cổ trước một thiên nhiên hoang sơ, thần bí và linh dị. Khi cuộc sống bị chi phối bởi nhiều tai họa, con người hình dung ra các vị thần mà mình cần cầu khấn. Người ta cúng tranh để cầu cho người yên, vật thịnh, phụ nữ sinh nở mẹ tròn con vuông, trẻ em chóng lớn, người ốm mau khỏi.
Một số tranh thờ cũng mang giá trị nghệ thuật, chẳng hạn như bộ Bát Âm. Đúng ra, bộ Bát Âm gồm tám cô gái, mỗi cô biểu diễn một nhạc cụ khác nhau. Để giảm bớt số ván in, người ta dùng hai bộ, mỗi bộ bốn bức. Mỗi bức thực chất là một bức tranh Tố nữ Huế, vẽ một cô gái đứng biểu diễn một nhạc cụ. Cả bốn cô đều đội mũ, mặc quần trắng và mặc áo "mã tiên", gồm áo dài trắng bên trong và áo cánh màu bên ngoài. Màu áo mỗi cô có thể thay đổi khi tô cho thêm sinh động. Áo mã tiên khá tiêu biểu ở Huế: trong những đám cưới lớn thường có tám em bé mặc áo mã tiên, cầm đèn lồng đi thành hai hàng dọc. Các cô gái trong tranh trông như những ca nữ duyên dáng với trang phục nền nã.
Về mặt kỹ thuật, tranh Sình có nhiều điểm tương đồng với tranh Đông Hồ và tranh Hàng Trống. Vì vậy, có thể trong quá trình di cư vào Đàng Trong, những nghệ nhân quê Thanh Hóa đã mang theo nghề của tổ tiên để mưu sinh.
Huế là vùng đất có rất nhiều sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian như thờ cúng tổ tiên, cúng cô hồn, dâng sao giải hạn, tảo mộ, cúng gia tiên vào các ngày sóc vọng và lễ tiết, lễ trai đàn bạt độ, lễ cúng tiên sư, tục thờ thần cửa ngõ... Chính đặc điểm này đã giúp tranh làng Sình phát triển lâu dài.
Nghề tranh hình thành từ khi lỵ sở của Huế còn đặt ở Hóa Châu thành và phát đạt không lâu sau đó. Từ bao đời nay, tranh làng Sình là dòng tranh chính phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của người dân Huế, xuất hiện trong các dịp cúng bái, lễ tết.
Tuy nhu cầu sử dụng lớn như vậy, trải qua những biến động của lịch sử, tranh làng Sình đang dần mai một. Hiện chỉ còn khoảng 6 - 10 gia đình với hơn 30 lao động làm tranh chuyên nghiệp. Tiêu biểu là các gia đình ông Kỳ Hữu Phước, bà Phan Thị Ký, bà Lê Thị Nhơn, ông Trần Viện... Những gia đình này vẫn còn giữ nguyên vẹn các bản khắc gỗ truyền thống. Đặc biệt, vào các tháng 10, 11 và 12 Âm lịch, nghề tranh thu hút thêm 15 - 17 gia đình với gần 100 lao động làm theo hướng bán chuyên nghiệp.
Ngày nay, cuộc sống thay đổi, nhận thức của con người cũng thay đổi, và nhiều người muốn tìm về những giá trị tinh thần đã phai nhạt. Tranh làng Sình đã dần lấy lại hình ảnh và vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, xã hội của một làng tranh truyền thống. Suốt 50 năm qua, nghệ nhân Kỳ Hữu Phước đã nỗ lực bảo tồn tranh Sình. Ông còn sáng tạo, khắc thêm nhiều mộc bản lấy đề tài từ sinh hoạt làng quê. Xưởng tranh của ông thường đón các tour trải nghiệm in tranh mộc bản do chính ông hướng dẫn. Du khách được tự in tranh và tập tô màu theo đường nét đã in. Cuối buổi, mỗi người có một bức tranh Sình do chính tay mình làm ra.

